Nguyễn Công Tiến (Halle, CHLB Đức): HỒN MA (Kỳ cuối)

Thứ ba - 27/09/2016 07:00
Mùa bầu cử ở Đức đã qua. Bóng ma của chế độ phát xít tuy không tác oai, tác quái trên bầu trời chính trị nước này, nhưng chúng đã để lại một số hậu quả nhất định.
Nguyễn Công Tiến (Halle, CHLB Đức): HỒN MA (Kỳ cuối)
 
HỒN MA (Kỳ cuối)
 

Linh cảm, là một dạng nhận thức khởi thuỷ và mơ hồ.
Nhưng, đôi khi nó lại là một lời tiên đoán.


Bà Jauch ngừng lời, ngồi lặng đi rồi lấy khăn lau nước mắt. Lâu sau, bà buồn bã nhìn thẳng vào đôi mắt của Hoài An, rồi chậm rãi:

   - Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không sao quên được đôi mắt xanh thăm thẳm ấy. Sophie nhìn tôi một cách tuyệt vọng. Nó gào lên: “Hannah! Hannah!”. Đó là những tiếng gọi cuối cùng, giây phút cuối cùng, giành cho một cuộc đời ngắn ngủi. Năm ấy, cả hai chúng tôi đều tròn tám tuổi.

Sau này mọi người mới biết rằng, cánh cửa kiên cố gài then sắt đó, chính là cửa phòng hơi ngạt. Từ trên trần nhà, bọn lính SS đeo mặt nạ phòng độc, thả những viên Siklon-B theo ống thông hơi xuống phòng. Chỉ khoảng ba mươi giây sau, tù nhân chết hết.

Bà Jauch dừng lại rất lâu để lau nước mắt, Hoài An ôm lấy bà, xót xa, im lặng chờ đợi. Lát sau, lấy lại bình tĩnh, bà nói:

   - Sau chiến tranh, người ta đã viết truyện về cái chết của hai chúng tôi, thậm chí dựng cả phim nữa. Nhưng không một ai trong số họ biết được rằng, con bé tù nhân Do Thái - là tôi vẫn còn sống.

   - Tại sao Oma không nói lên sự thật?

   - Để mà làm gì? Hơn nữa, trong thâm tâm, tôi cũng rất muốn được ở bên Sophie, dù đó chỉ là trong tâm tưởng mọi người.

Bà cụ vẫn chưa hết cơn xúc động, tay chống cằm, mắt cứ đăm đăm nhìn vào tách cà phê đã nguội lạnh. Hoài An toan đứng lên thay cho bà một ly khác, nhưng bà phẩy tay, ra ý không cần, rồi chậm rãi kể tiếp:

Đang trong lúc lộn xộn ấy, bỗng có ai đó bế thốc tôi ra ngoài. Một bàn tay ấn tôi tôi nằm xuống bệ xi măng, rồi ném lên người tôi một mớ quần áo mà các tù nhân vừa cởi ra. Biết là trong tình trạng nguy hiểm, tôi cứ nằm yên ở đó cho tới lúc người tù cuối cùng bị lùa vào bên trong. Chiếc then sắt cài cửa sập xuống, bọn lính SS và những người tù “trật tự” rút đi. Tiếng giày đinh và tiếng người lao xao thưa dần rồi tắt hẳn. Tôi hé mắt nhìn ra, căn phòng tối mờ mờ, từng đống quần áo nằm rải rác trông như những nấm mồ, không gian im lặng đến rợn người. Đúng lúc ấy, cửa phòng bật mở. Có tiếng giày nện gấp gáp trên nền xi măng. Một giọng phụ nữ hét lên: “Sophie! Sophie…”. Tôi biết chắc đó là mẹ của Sophie. Lạy Chúa! Sao giờ này bà mới tới? Tôi vẫn nằm im và hé mắt nhìn ra. Bà vừa chạy vòng quanh tìm kiếm trong những đống quần áo, vừa gào: “Sophie” trong nước mắt, giọng bà lạc đi. Lúc này có lẽ tôi đã mơ hồ nhận ra rằng, mình đang nằm ở ranh giới giữa sự sống và cái chết. Đấng cứu thế đã run rủi mẹ của Sophie đến đây và bà là hiện thân của sự cứu rỗi. Có lẽ đây là sợi chỉ mỏng manh duy nhất của thế gian, có thể giữ được tôi ở lại với sự sống. Hình ảnh đôi mắt ngấn lệ của mẹ tôi trong đêm cuối cùng, nhìn tôi qua ánh đèn vàng vọt lại hiện về. Không kìm được mình, tôi bật lên tiếng gọi: “Mama, Mama”, rồi từ từ ngồi dậy. Bà Katrin sững lại giây lát rồi lao về phía tôi, cứ vậy, bà ghì chặt tôi vào lòng. Tôi nghẹn ngào nấc lên: “Sophie!...Sophie!…”. Bà buông tôi ra, vứt bỏ đống quần áo đang phủ lên người. Trước mặt bà là đứa bé Do Thái tóp teo, trọc lốc. Bà kêu lên một tiếng: “Lạy chúa tôi!”, rồi hỏi tôi dồn dập: “Sophie đâu? Sophie đâu?”. Nước mắt chan hòa, tôi chỉ tay về phía cánh cửa sắt mà không nói lên lời. Mẹ Sophie đổ vật người xuống, hai tay bưng lấy mặt, toàn thân run lên bần bật, bà khóc không thành tiếng. Lúc ấy, tôi có cảm giác, thời gian trôi đi như một thế kỉ. Sợ rằng sợi chỉ mỏng manh cuối cùng sẽ đứt hẳn, tôi cố sức lay gọi bà: “Mama…Mama”. Thật kì diệu, tiếng gọi tưởng như tuyệt vọng ấy đã kéo bà Katrin trở lại với hiện thực. Bà từ từ ngồi dậy và ôm tôi vào lòng. Nước mắt của bà nhỏ dài trên má, rồi lăn xuống đôi môi khô héo của tôi. Tôi đã nuốt những giọt mặn đắng ấy, mà tưởng như đang được uống dòng sữa ngọt ngào của mẹ năm nào.

Hóa ra, đến chiều, khi không thấy Sophie đâu, bà Katrin đi tìm và đã phát hiện ra chỗ chúng tôi hẹn nhau phía sau khu nhà kiểm dịch. Lần theo dấu vết, bà đã tới được nơi Sophie giấu váy áo và bà đã nhanh chóng hiểu ra sự việc… Bà nói như ra lệnh với tôi:

   - Ra ngay chỗ gặp Sophie lúc nãy và chờ tôi ở đó!

   - Cháu sợ lắm! - Tôi thực sự sợ hãi về những gì vừa xảy ra.

   - Không được sợ! Nếu như cháu còn muốn sống. Hãy vờ làm một việc gì đó và ra ngay chỗ hẹn!

Quan sát ngoài cửa xong, bà Katrin vẫy tôi ra. May sao, mọi việc đều trót lọt. Sau khi mặc cho tôi bộ váy áo của Sophie, bà Katrin không quên trùm lên đầu tôi một cái khăn rồi xóa sạch dấu vết. Khi đi qua vọng gác của lính SS, bà ôm vai, kéo tôi sát vào người. Bên ngoài, trên một chiếc xe tải, có toán lính Đức đang xúm xít đung đưa quanh một chiếc máy quay đĩa, họ vui vẻ thưởng thức bản “Sông Đa Nuýp xanh” của Johann Strauss - bản nhạc mà ngày trước, khi còn ở trong khu biệt cư Warschau, cha mẹ tôi cũng vẫn thường nghe... Rồi chúng tôi đi như bị ma đuổi.

Ngôi nhà kho nằm ven rừng, phía sau có một cửa sổ nhỏ. Bà Katrin giúp tôi chui vào bên trong và bảo tôi nằm im ở đó chờ. Đêm xuống, khi bên ngoài không còn trông rõ mặt người, bà đến dẫn tôi về nhà. Nhà của gia đình bà trước kia là của một gia đình nông dân Ba Lan. Ngôi làng hiền lành, bỗng dưng bị biến thành trại gia binh của quân đội Đức. Đồ đạc trong phòng, phần lớn được chuyển từ thành phố về. Phòng của Sophie khá nhỏ, hầu như chỉ kê vừa cái giường… Đêm đầu tiên tôi bị sốt, rồi chìm dần vào giấc ngủ mê man đầy bóng hình kinh dị, kì quái. Ma quỉ đâu đó cứ vây quanh tôi gào thét. Có những lúc mơ màng tỉnh dậy, tôi lờ mờ thấy mẹ ngồi bên, bà đắp khăn ướt lên trán tôi. Tôi cố nhìn nhưng không rõ mặt. Điều cảm nhận rõ nhất trong tôi là bàn tay mềm mại và những giọt nước mằn mặn rơi trên má của mình.

Suốt mấy ngày liền, bà Katrin giành gần trọn thời gian cho việc dò tìm tin tức Sophie. Nhưng cuối cùng, bà phải đau đớn thừa nhận với tôi rằng, lời tôi kể là đúng. Bà cũng nói cho tôi biết rằng, cái ống khói mà Sophie vẫn hay hỏi, chính là ống khói của lò thiêu người. Mẹ tôi và những người ốm yếu khác, đã bị bọn phát xít sát hại trước đó một tuần.

Khi tôi đã gần bình phục thì bố của Sophie về. Ông Philip Jauch là thượng sĩ lái xe trong quân đội Đức, tiểu đoàn của ông chuyên phục vụ cho các trại giam vùng nam Ba Lan. Ông về vào buổi tối, họ ngồi với nhau rất lâu. Nằm trong phòng, tôi nghe rõ tiếng khóc của hai người. Cuối cùng ông cũng vào thăm tôi, hai mắt ông đỏ hoe, răng nghiến chặt. Khi thấy tôi trong bộ đồ ngủ của Sophie, tay ôm con gấu nhỏ, hai ông bà không cầm lòng được, lại nấc lên từng hồi. Cả ba người chúng tôi cùng khóc trong im lặng, tiếng khóc cứ tắc ngẹn nơi cổ. Một lúc sau, khi lấy lại được bình tĩnh, ông Jauch ngồi xuống, nắm hai vai và nhìn thẳng vào mắt tôi nói: “Từ bây giờ trở đi, cháu là con gái của chúng tôi. Tên của cháu là Sophie. Luôn nhớ rằng không được đi ra ngoài, không được bỏ tóc giả ngay cả khi đi ngủ!”.

Từ đấy trở đi, tôi gọi họ là “Papi” và “Mami” (cách gọi trìu mến cha, mẹ trong các gia đình người Đức). Cuộc đời tôi bắt đầu bước sang một trang mới, hoàn toàn khác. Cha tôi đi lâu lâu lại dẫn về một vài người. Họ kéo rèm và ngồi uống với nhau khá khuya. Tôi nhớ là vào đầu mùa đông năm 1944, cha tôi lại về. Đi cùng với ông là một sỹ quan Đức. Họ nói với mẹ tôi rằng, chuẩn bị rời khỏi nơi này. Tôi đoán đang xảy ra một việc gì đấy rất quan trọng. Khi ấy còn nhỏ, tôi không biết được rằng, tình hình chiến sự đã thay đổi: phía Tây nước Đức, quân đội Mỹ đã tiến tới thành phố Aachen. Còn phía Đông, quân đội Xô Viết đang đánh chiếm Rzesrow của Ba Lan. Bọn chỉ huy SS quyết định di chuyển toàn bộ tù nhân về làm lá chắn sống cho Berlin… Theo kế hoạch, bố tôi sẽ đưa mẹ con tôi trở về Đức, sống nhờ ông bà nội ở thành phố Leipzig. Sau đó ông sẽ cùng đồng đội quay lại bắt liên lạc với du kích Ba Lan để giải thoát tù nhân.

Đoàn xe phủ kín bạt khởi hành lúc chập tối. Xe của cha tôi được bố chí chạy sau cùng. Trên xe có cả người sỹ quan và mấy người lính đã đến nhà chúng tôi tháng trước. Khi xe chạy qua địa phận Opole, chúng tôi bắt đầu nhìn thấy xác của các tù nhân nằm rải rác ven đường. Những thây người với da bọc xương, nằm co quắp, đen sì trên mặt tuyết. Họ hoặc là đã bị kiệt sức do ốm đau, đói rét, hoặc là bị bắn chết. Đến ngoại ô Zielona, hai mẹ con tôi được chuyển qua xe khác, rồi chuyển hướng chạy về biên giới.

Chúng tôi sống với ông bà nội ở thành phố Leipzig suốt mấy tháng liền. Ngày nào cả gia đình cũng nóng lòng chờ đợi. Mãi đến giữa tháng năm, cha tôi mới trở về. Tôi biết chắc rằng cuộc chiến tranh tàn khốc đã chấm dứt và chúng tôi vẫn còn sống. Nhớ tới Sophie, tất cả ôm lấy nhau cùng khóc.

Hoài An thở phào, cô hít vào thật sâu như đang tận hưởng cái không khí trong trẻo, mát lành của hòa bình mà bà cụ vừa mang đến. Trở lại với mình, cô còn nhớ như in những ngày sau hòa bình 1975 ở Việt Nam. Cha cô cũng trở về từ chiến trường, sau lưng đeo một chiếc ba lô, bên trên buộc tòng teng một con búp bê mắt xanh tóc vàng đẹp như thiên thần. Con búp bê mà từ bao năm nay, cô con gái bé nhỏ của ông hằng khát khao mong đợi. Cha cô cười với hàm răng trắng bong, nhưng mẹ cô thì lại khóc hết nước mắt vì khi ấy, ông chỉ còn lại một cánh tay và trên mình chi chít những vết thương. Ôi chiến tranh! Những cuộc chiến tranh không ngừng nghỉ, nó đã làm máu của con người chảy triền miên, suốt từ thế kỉ này sang thế kỉ khác. Nó đã mang đến cho từng gia đình những mất mát đau thương vô bờ bến… Biết đến bao giờ, con người sống trên trái đất nhỏ nhoi này, sẽ không còn phải hứng chịu những cuộc bắn giết vô nhân đạo nữa?

Mải thả mình theo những suy nghĩ miên man, Hoài An giật mình khi bà Jauch đặt vào tay cô quyển Album dày cộp, bà vừa lấy ra từ ngăn tủ.

   - Tôi cho cô xem hình tôi ngày còn nhỏ nhé!

   - Từ khi nào vậy Oma?

   - Từ năm 1945. Nhưng đặc biệt, tôi vẫn còn tấm hình khi mới lên hai tuổi. Cha bế tôi trước cửa hàng cắt may của ông.

Hoài An đón tấm hình trên tay bà cụ. Cô vô cùng thích thú khi nhìn thấy cửa hàng cô thuê làm móng, cách đây những 70 năm. Nó vẫn vậy, hầu như chẳng khác đi nét nào. Vẫn cái cổng xây cuốn theo kiến trúc Gô-tích, với những hoa văn cầu kì trang trí quanh riềm. Phía trên cổng, vẫn hai con sư tử đang chồm lên dựng bờm ôm một quả cầu. Một người đàn ông cao lớn, râu quai nón rậm rì đang bế trên tay một bé gái nhỏ xíu. Một tấm ảnh khác chụp toàn bộ cấu trúc bên trong ngôi nhà. Bà Jauch đã lấy được chúng từ một cuộc triển lãm ảnh, về bảo tàng nhà của thành phố. Hoài An có ý sốt ruột:

   - Oma kể tiếp đi! Từ sau năm 1945, gia đình sống ra sao?

   - Ở nhà ông bà nội chưa được bao lâu, cha tôi bị trưng dụng vào đội ngũ lao động không công. Họ phải tháo dỡ những nhà máy quân sự, để chuyển chúng sang Liên Xô. Đến cuối năm 1946, ông cùng nhiều người Đức khác, bị điều sang vùng viễn Đông Sibiri làm công việc khai thác gỗ. Vậy là gia đình tôi phải tạm biệt ông bà, khăn gói ra đi. Tàu hỏa đưa chúng tôi tới thành phố Surgut và gia đình tôi định cư tại đó. Sống trên đất Nga và gần cha mẹ, tuổi thơ thứ hai của tôi trôi qua một cách êm đềm và đầy mơ ước. Mãi cho đến một hôm, vào đầu mùa hè 1952, trong một lần vận chuyển gỗ về xuôi, tình cờ cha tôi gặp lại được một sỹ quan quân đội Xô Viết. Đó là Trung tá công binh Xergey Gromow. Ông ta nhận ra ngay cha tôi - đây chính là viên thượng sỹ Đức lái xe năm xưa, người đã bí mật cung cấp thuốc nổ cho các tù binh Nga trong trại Auschwitz. Nhờ đó mà họ đã tiến hành một cuộc nổi dậy và đã đánh sập lò thiêu số 4 của bọn Quốc xã. Vậy là chỉ một thời gian ngắn sau đó, gia đình tôi được chuyển về định cư tại Perm - một thành phố nằm phía Tây dãy Ural. Tại đây, cha mẹ tôi được làm lại nghề cũ của mình. Tôi được tiếp tục đi học và tất nhiên, được thỏa sức mơ ước về một trường sư phạm nào đó.

Bà Jauch kể tiếp cho Hoài An nghe lịch sử có hậu của một gia đình nhỏ, thông qua những tấm hình đã ngả màu. Đây là bà đứng bên cạnh chồng và hai con - một trai, một gái. Năm 1952, chàng sinh viên Đức Hans Mueller được sang Liên Xô học trong một trường xây dựng. Họ đã quen nhau và đám cưới được tổ chức sau khi cô sinh viên Sophie tốt nghiệp ngành sư phạm. Mặc dù đã lấy chồng, nhưng Sophie vẫn giữ họ cha. Sau này, khi ông bà Katrin và philip Jauch nằm xuống dưới chân núi Ural, vợ chồng bà mới có kế hoạch trở về Đức. Thành phố này, chính là quê của ông Mueller. Cách đây ba năm, ông đã vĩnh biệt bà ra đi vì căn bệnh ung thư quái ác. Gia đình hai người con của bà thì ở trên Leipzig, còn bà sống độc thân trong căn hộ nhỏ này.

Cửa phòng bật mở, tiếng cười của bọn trẻ bay vào như một luồng gió, nó kéo suy tư của hai người phụ nữ trở lại với hiện thực:

   - Bà ơi! Cháu và “Na” có được chơi Nintendo không? - Bé Elisabeth hỏi có vẻ năn nỉ.

   - Sao lại không nhỉ, hôm nay là ngày của các cháu mà.

Bà Jauch méo mó nở một nụ cười. Hình như trong bà vẫn còn ăm ắp những kỉ niệm xưa. Càng về già, người ta càng hay nghĩ về quá khứ và rất dễ mủi lòng.

Đã xế chiều, bà Jauch và Elisabeth tiễn hai mẹ con Hoài An trở về. Khi đi ngang qua đài tưởng niệm người Do Thái, bà dừng lại đưa tay sờ lên những dòng chữ khắc sâu trong đá, rồi nói:  

   - Tôi nghĩ rằng sẽ không ổn cho xã hội, và nhất là cho những người như chúng ta, một khi bóng ma của chủ nghĩa phát xít vẫn còn dật dờ đâu đây. Liệu sau này, người ta có còn phải xây thêm nhiều tượng đài như thế này nữa hay không? Linh cảm là một cái gì đấy… tuy là rất mơ hồ, nhưng riêng mình, tôi vẫn nhìn thấy được hình hài của nó một cách khá rõ ràng.

Hoài An hiểu ý bà cụ. Mới ngày hôm qua thôi, cô có xem một phóng sự trên báo “Trung Đức”, phóng viên viết bài nói về ngôi làng Jamel nào đó gần biển Ban-tích thuộc Đức. Nơi đó thực sự là vùng “đất thánh” của bọn đầu trọc. Người dân ở đây, phần lớn tán thành đảng phát xít mới - đó là đảng NPD. Họ chống người nước ngoài kịch liệt. Rồi cuộc bầu cử vừa qua ở một tiểu bang vùng cận Đông, số lượng phiếu bầu cho đảng này bất ngờ khá cao. Thậm chí, họ còn gom đủ số phiếu để có một đại diện trong hội đồng tiểu bang. Bà cụ đã nói đúng, rất đúng: Bóng ma của chủ nghĩa phát xít có nguy cơ xuất hiện trở lại. Điều đó không chỉ còn là linh cảm nữa rồi.

Gió thu xào xạc nổi lên. Gió cuốn những chiếc lá vàng hanh hao dưới chân họ, bay mãi về tận nơi cuối vườn.
                                                      *      *     *
Thời gian trôi đi, thật như vó câu qua cửa! Mới vậy mà tiệm móng của Hoài An đã khai trương được bốn năm rồi. Trong sân trường August Herrmann Franke, chùm tia nắng chín vàng vụt qua những tán lá sồi đỏ rồi nhẹ nhàng đậu xuống thảm cỏ mượt mà mới cắt. Rừng phong nằm bên hữu ngạn sông Saale đã khoác lên mình một màu xanh ngan ngát. Và, những bông hoa mào gà đỏ chói, mỏng như cánh bướm, nở rực rỡ khắp trên đồng nội… Tất cả đang báo hiệu một mùa hè nữa lại tới. Thành phố chan hòa ánh nắng. Hai bên đường của đại lộ Merseburger, đã từ nhiều ngày nay, người ta treo biển quảng cáo và dựng các pa-no, áp-phích để phục vụ cho mùa bầu cử. Năm nay có tới mười lăm đảng phái được tham gia tranh cử. Người ta in nội dung những tờ quảng cáo to bằng khổ A1, sau đó dán nó vào một bìa các tông cứng. Trên mỗi cột điện hay hàng cây ven đường, người ta lại treo hai hay ba biển quảng cáo của các đảng phái khác nhau, đôi khi chúng được buộc vào cột, chỉ bằng những sợi dây thép nhỏ.

Bà Jauch hôm nay dậy sớm hơn bình thường. Có hẹn, bà phải tới Burg để thăm một người quen mới từ Surgut sang. Cuộc hội ngộ đã làm họ không kìm được nước mắt. Bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng chốc tràn về bên những mái đầu đã bạc. Mới ngày nào lũ trẻ còn bốc tuyết ném nhau ở Sibiri, vậy mà bây giờ ai cũng đã trở nên mắt mờ chân chậm. Rồi những kỉ niệm về cha mẹ, về người chồng thân yêu…cứ lần lượt hiện lên trong bà. Chuyện xưa mà mới tinh khôi như ngày hôm qua vậy. Tất cả đã ra đi mà chẳng để lại một dấu vết gì. Thời gian lặng lẽ trôi, rồi sẽ tới lúc chẳng ai còn nhớ được ai nữa. Cả bà cũng vậy, bà cũng sắp là người bước theo họ để đi mãi vào miền cực thẳm vô hình. Gần tám chục rồi còn gì!

Hoài An cảm thấy bồn chồn, đứng ngồi không yên, chốc chốc cô lại ra cửa để ngóng. Đã quá hẹn nửa tiếng mà bà Jauch vẫn chưa tới. Nghĩ là do trời mưa to nên bà không đến được, cô gọi điện cho bà, nhưng không có người cầm máy. Thường thì bao giờ bà cũng đến sớm khoảng mươi, mười lăm phút để uống cà phê và chuyện đông chuyện tây. Không hiểu sao, hôm nay bà lại bỏ hẹn?

Ngoài chợ, mọi người đang đánh đu với gió. Gió to quá! Gió làm bốc cả chân những căn lều bán hoa quả dựng bằng vải bạt. Các xe bán đồ ăn nhanh đều đã phải sập cửa. Quảng trường thành phố trắng mù trong mưa.

Phía núi Harz, mây cuồn cuộn sẫm màu. Gió lạnh nổi lên thổi ngược hướng đi của chiếc VW Polo màu đỏ. Xe mang biển số chọn hai chữ SH. Bà Jauch hơi bực mình vì cửa kính xe phía bên kia kéo lên chưa kín, gió lùa qua và rít lên từng hồi. Về gần đến thành phố thì mưa nặng hạt, những giọt nước đan chéo nhau xiên thẳng vào mặt kính. Bà mở cần gạt nước rồi bật đèn. Mưa càng mau hơn và gió cứ lớn dần. Xe chạy đến ngang trạm xăng trên đường An der Magistrale thì mưa như trút. Thỉnh thoảng những chiếc xe tải chạy ngược chiều lại táp cả đống nước lên kính trước, bà phải để cần gạt nước ở mức cao nhất rồi mớm phanh cho xe đi chậm lại. Vừa nhìn rõ lại mặt đường, thì thình lình có tiếng sét nổ vang bên ngoài. Bà Jauch giật bắn mình. Chưa kịp hoàn hồn, bỗng nhiên bà nhìn thấy từ phía xa trong cơn giông, một cái gì đó đen sì. Nó như một con vật biết bay, hai cánh có những gai nhọn giang rộng. Con quái vật chấp chới liệng trái, liệng phải rồi bay lại gần xe bà. Trong một chớp mắt, bà Jauch chỉ kịp nghe một tiếng “phập” rất mạnh, vật thể lạ đó đã đâm sầm vào trước mặt bà, nó nằm úp chặt trên kính xe. Cần gạt nước bị kẹt. Xung quanh tối đen lại. Chiếc VW Polo đảo bánh như lên đồng… Bà Jauch hốt hoảng chưa kịp chuyển chân phanh thì đã nhận ra một cú va chạm khủng khiếp. Bà thoáng mơ hồ nghe thấy có tiếng đổ vỡ…Có một vật gì đó rất nặng, ép chặt ngực, làm cho bà không thở được. Trong giây lát, bà thấy như có một dòng nước nóng đang trào ngược lên miệng. Cuối cùng, không chịu đựng nổi khối băng lạnh buốt chạy dọc từ cột sống lên tim, bà gục xuống ngay trên tay lái.

Mưa chợt tạnh. Trời sáng lại dần. Đoạn đường dài cả trăm mét loang loáng ánh đèn xe của lực lượng cứu hộ. Mọi người đã nhìn rõ chiếc VW màu đỏ bị mất lái, đâm trực diện vào cột đèn bên đường. Đầu xe dúm lại, máy vỡ, nước và dầu xe vẫn đang nhỏ giọt. Cửa xe bị kẹt, người ta phải dùng cưa máy mới đưa được nạn nhân ra ngoài.

Chụp xong pô ảnh cuối cùng, viên sỹ quan cảnh sát đưa tay ra hiệu cho chiếc xe cẩu của hãng ADAC tiến vào. Phía sau nó là cả một dàn xe của lực lượng cứu hỏa. Trong khi mọi người chuẩn bị cáp để kéo chiếc VW bị nạn ra, thì viên cảnh sát tiến lại gần, ông ta đưa tay lột bỏ tấm các tông vẫn đang còn dính chặt vào kính trước - đó là một tấm bìa quảng cáo, cho cuộc bầu cử sắp tới của thành phố. Mọi người ngoái cả lại… tất cả nhìn nhau sững sờ. Mặt trong của nó hiện lên ba dòng chữ:
                                          
“Tiền Đức, người Đức tiêu.
Công việc, người Đức làm.
Bọn nước ngoài cút đi!”.

Dưới cùng, góc bên phải có ba chữ cái màu đen in đậm: NPD.

Sáng chủ nhật, người ta thấy một phụ nữ gốc Á còn trẻ, dẫn theo một bé gái bước vào cổng nghĩa trang nằm trên phố Hutten. Bó hoa cúc vàng trên tay cô cứ run rẩy theo mỗi bước chân. Họ đi qua những ngôi mộ cũ, nằm im lặng, nối tiếp nhau trên mặt đất. Nơi đây đang và sẽ giữ gìn mãi mãi số phận của những con người đã trở về với thiên cổ. Họ cũng đã từng có một thời được đón nhận ánh nắng mặt trời tỏa lan trên trái đất này; cũng đã từng được hít thở không khí trong lành sớm mai và cũng đã từng có một thời được hẹn hò yêu thương hay hờn giận… Giờ đây, tất cả đã chìm vào dĩ vãng, chìm vào bóng đêm dày đặc. Tất cả đã trở nên im lặng! Vĩnh viễn im lặng!

Hoài An và bé Nga dừng lại trước một ngôi mộ nằm sát hàng liễu rủ. Đất ở đây còn mới, cỏ vẫn chưa kịp lên và hoa viếng trên mộ đã bắt đầu úa tàn. Dưới nấm mồ này là một con người bình thường, bình thường như trăm vạn con người khác, nhưng bà lại có một thân phận hết sức đặc biệt. Bà đã từng thoát chết trong gang tấc, dưới bàn tay diệt chủng của bọn phát xít Đức trong lò thiêu người ở Auschwitz. Không ai ngờ được rằng, bảy mươi năm sau, hồn ma của chúng vẫn bám theo bà trên mọi nẻo đường. Phải chăng, đây chính là cái “linh cảm không ổn” mà bà Jauch đã có lần nói với Hoài An? Cô lặng lẽ đặt bó hoa xuống dưới chân nấm mộ, nước mắt làm nhòe đi những dòng chữ khắc trên bia:

Sophie Jauch
(tức Hannah Jobike)
1936 – 2013
 
Phía dưới là một hàng chữ Do Thái được khắc đậm nét, nó giống như lời nguyện ước hay nhắn nhủ không chỉ cho riêng bà:
 
“Ngày mai trở về Jerusalem”.
  
Gió lạnh nổi lên. Không gian hoang lặng. Trong nghĩa trang lúc này, chỉ còn tiếng một chiếc lá sồi khô đáp nhẹ về cội, như thể cố giữ bình yên cho những giấc ngủ ngàn năm. 
 

>> Truyện nhiều kỳ của Nguyễn Công Tiến (Halle, CHLB Đức): HỒN MA (Kỳ1) 

>> Truyện nhiều kỳ của Nguyễn Công Tiến (Halle, CHLB Đức): HỒN MA (Kỳ 2)    


Nguyễn Công Tiến (hết)

-------------------

LTS: 
Mọi hành động sử dụng nội dung bài viết trên phải có sự đồng ý bằng văn bản của Báo điện tử NguoiViet.de.

Tổng số điểm của bài viết là: 20 trong 4 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 4 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Tô Quốc Bảo

    Cảm ơn chúa đã cho bạn tôi viết lên những dòng đồng cảm từ trái tim chạm đến những trái tim.

      Tô Quốc Bảo   28/09/2016 09:35

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây