Nguyễn Công Tiến (Halle, CHLB Đức): HỒN MA (Kỳ 2)

Thứ hai - 19/09/2016 06:35
Vẫn đang mùa bầu cử. Ở một số bang của nước Đức, các Đảng cực đoan đã dành được một số phiếu nhất định. Có phải bóng ma phát xít đang đội mồ sống lại?
Tranh cổ động của NPD trong cuộc tranh cử ngày 18.09.2016 tại Berlin.
Tranh cổ động của NPD trong cuộc tranh cử ngày 18.09.2016 tại Berlin.
 

HỒN MA (Kỳ 2)

                                                                                                

Linh cảm, là một dạng nhận thức khởi thuỷ và mơ hồ.
Nhưng, đôi khi nó lại là một lời tiên đoán.

 
Tôi là người Do Thái, tên thật của tôi là Hannah, Hannah Jobike. Từ ông bà đến bố mẹ tôi, đều tự hành nghề kiếm sống. Mùa xuân năm 1938, khi tôi mới lên hai tuổi, thì bố mẹ tôi được ông bà cho ra ở riêng và họ đã quyết định về thành phố này sinh sống. Sau nhiều lần tìm kiếm, thì bố tôi cũng thuê được một cửa hàng để kinh doanh. Ông mở một cửa hàng cắt may. Ông nội tôi là bậc thầy về nghề này và đã truyền lại cho bố tôi. May mắn là cửa hàng mở ra đã đông khách ngay, do đó gia đình tôi sống khá dễ chịu. Điều này không như hơn mười năm về trước, khi ông tôi đưa được cả gia đình tới Berlin, thì giá một ổ bánh mì lúc đó là mười lăm triệu Mác “Đế chế”. Không thể tin nổi, lạm phát đã làm kiệt quệ cuộc sống người dân Đức. Vậy là bọn Quốc xã đổ mọi tội lỗi lên đầu những người Do Thái chúng tôi. Khi mà bố mẹ tôi đã dành đủ tiền để mua một căn phòng nhỏ khoảng hai mươi mét vuông, thì cũng là lúc Hitler chuẩn bị đẩy nước Đức vào một cuộc chiến tranh mới. Bọn Phát xít nổi lên ở khắp các thành phố, chúng mở chiến dịch bài Do Thái khắp nơi. Chúng đốt nhà, đánh đập, cướp bóc... nhằm vào chúng tôi bất cứ lúc nào. Ai là người Do Thái, dám cả gan bước vào quán cà phê, lập tức được bồi bàn mang ra một chiếc tách không, kèm mẩu giấy “đồ Do Thái cút đi”. Khẩu hiệu đó cũng được đặt ngay ở các lối ra vào khu công cộng. Cửa hiệu cắt may của bố mẹ tôi lúc đầu bị đập kính, vài ngày sau bị chúng phóng hoả, cháy không còn một sợi chỉ… Dừng lại một lúc, bà quay sang Hoài An :

   - Đó chính là cửa hàng mà cô đang thuê mở tiệm làm móng bây giờ.

Hoài An giật mình, cô không ngờ cửa hàng mình thuê, lại có liên quan tới một câu chuyện bảy mươi năm về trước. Cũng ở con phố đó, cách tiệm của Hoài An chừng vài chục mét, hãng Woolworth vừa khai trương một cửa hàng bách hóa. Người ta kể rằng khu nhà đó, ngày xưa thuộc sở hữu của một người Do Thái. Thảo nào, hôm mở cửa hàng làm móng, một tên cực hữu già đã ném thẳng vào mặt cô một câu: “ Bọn Việt Nam chúng mày, chẳng khác gì lũ Do Thái ngày xưa. Lúc đầu thì thuê cửa hàng, sau đó là mua nhà, mua đất…”. Chẳng nhẽ mình lại giống người Do Thái? Cô bất giác đặt tay mình lên tay bà Jauch - bàn tay khô ráp, nhưng rất ấm. Tiếng bà cụ vẫn đều đều:

   - Ở khắp các ngõ ngách, bọn Phát xít trưng ra các khẩu hiệu, “bọn Do Thái cút đi”… Làn sóng chống Do Thái mỗi lúc một dâng cao, sự sống của chúng tôi bị đe dọa từng giờ, từng phút. Chỉ khi nào thật cần thiết, chúng tôi mới dám mạo hiểm ra ngoài phố. Thời gian cứ vậy nặng nề trôi cho đến lễ Giáng sinh 1938, cả gia đình tôi cùng hàng vạn người Do Thái khác bị nhồi nhét lên xe tải trục xuất về Ba Lan.

Sang năm sau, Hitler đánh Ba Lan, chính phủ Ba Lan “bỏ của chạy lấy người”, chúng chiếm thủ đô một cách dễ dàng. Chỉ vài tuần sau, bọn SS ra một sắc lệnh, buộc người Do Thái chỉ được sống trong một khu nhất định. Và tới cuối năm 1940, chúng thực hiện được điều đó. Hai mươi hai cổng ra vào khu biệt cư Do Thái ở Warschau đều có hiến binh Đức, Ba Lan và bọn “dân quân” người Do Thái canh gác. Người ta gọi khu này là “Getto”, đúng theo tên gọi biệt khu như thế để giam cầm  người Do Thái  thời trung cổ ở Ý. Ở đây, chúng tôi không khác gì tù nhân. Bọn Phát xít đánh đập, cướp bóc, hãm hiếp, thậm chí bắn chết người bất cứ lúc nào. Tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh một phụ nữ bị bọn lính Đức lột quần áo giữa đường, chúng bắt chị ấy dùng quần lót lau sạch đất bám trên giày... Chúng tôi ngày càng cùng quẫn, tiền hết dần, đói khát, ốm đau bệnh tật... Đến giữa năm 1943, không chịu nổi sự đàn áp dã man của bọn Phát xít, các chiến sĩ Do Thái được sự hỗ trợ của các du kích Ba Lan, đã tổ chức một cuộc đề kháng ác liệt, nhưng tuyệt vọng. Bọn phát xít điều cả xe tăng tới đàn áp. Cuộc đề kháng kéo dài khoảng một tháng thì bị dập tắt. Hầu hết những người tham gia đều bị giết, và cha tôi đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến ấy. Khi đó tôi mới bảy tuổi.

Sau này, bọn Phát xít càng điên cuồng tàn sát người Do Thái với nhiều hình thức dã man hơn: treo cổ từng người; hoặc bắt họ đứng theo hàng dọc, rồi dùng súng máy bắn; lột hết quần áo nạn nhân, đẩy họ xuống một cái hố do chính tay họ mới đào, rồi ném bộc phá, lựu đạn xuống... Bằng cách ấy, riêng ở trại Poniatowa thuộc quận Lublin, bọn SS đã giết chết mười lăm nghìn người của chúng tôi, chỉ trong một ngày. Chính do mức độ tàn bạo đó mà ngay cả một số sĩ quan, binh lính Đức đã chống lệnh cấp trên, hoặc ra mặt trận với một tâm lý bất ổn, rồi rủ nhau đào ngũ.

Thời gian sau, chúng tôi nhận được thông báo mới của bọn SS:

“Dân Do Thái và các vùng phụ cận!

Đúng 6 giờ sáng ngày 22.7.1942, phải tập trung tại đường Lubowka (trước cổng nghĩa trang Do Thái). Mỗi người được mang theo 15 kg hành lí cùng vật dụng cá nhân, tiền, vàng, giấy tờ, tư trang... Kẻ nào chống lệnh sẽ bị xử tử ngay tại chỗ.

Kí tên: Thiếu tá Hermann Hoefle

Chỉ huy biệt đội Reinhard”

Biệt đội này hành động vô cùng tàn bạo, mọi người vẫn gọi nó là “Đội tận diệt”. Tên chỉ huy to béo, có cái đầu hói trọi, xuất thân từ thành phần vô sản. Trước chiến tranh, hắn là công nhân sửa chữa ô tô… Sau ngày Hitler tự sát, y lẩn mất, mãi đến năm 1961 người ta mới bắt được. Tôi theo dõi vụ này trên báo thì được biết, tên sát nhân đã tự kết liễu đời mình trong tù.

Lang thang nơi đất khách quê người, khi gặp nhau, để bày tỏ ý chíchí và ước nguyện, dân Do Thái chúng tôi thường có một câu chào quen thuộc: “Ngày mai trở về Jerusalem”. Sáng hôm ấy, tập trung gần khu nghĩa địa của mình, chúng tôi khẽ chúc nhau để cầu mong thực hiện được lời nguyện ước đó. Rồi tất cả lặng im chờ đợi.

Vậy là một lần nữa,  cả vạn dân Do Thái  lại phải bồng bế nhau lên những xe tải bịt kín, hoặc bị dồn vào toa xe lửa chuyên chở gia súc, di chuyển khỏi Warschau. Tôi xách đi theo mẹ một chiếc valy nhỏ. Trước khi bị dồn lên xe, chúng tôi đứng lặng giây lát, nhìn về khu định cư khói lửa. Nơi, có người cha thân yêu của tôi đã nằm xuống và mãi mãi không trở về.

Bọn Phát xít đưa chúng tôi xuống miền nam Ba Lan, cách Warschau gần ba trăm kilomet. Ở đó có con sông Wista thơ mộng, một ngôi làng mang tên Bạch Dương rất thanh bình, tất cả đã bị chúng biến thành một trại giam tàn bạo. Đó chính là trại Auschwitz. Chúng tôi bắt đầu có một cuộc sống khác. Nói đúng hơn là, chúng tôi bắt đầu đặt chân vào ngưỡng cửa của đời sống súc vật và bước dần tới cái chết khủng khiếp.

Ngay khi xe vừa tới nơi, tôi đã nhìn thấy rất nhiều xác chết nằm lại trong thùng, họ là những người già, ốm hay trẻ sơ sinh. Thùng xe bị bịt kín, chúng tôi không đủ không khí để thở. Những người khỏe mạnh được đưa sang trại lao động. Còn lại, những người ốm yếu, bị chúng dồn sang trại khác để lên kế hoạch thủ tiêu. Nhưng lúc ấy, trong chúng tôi không ai biết được điều đó. Bọn SS bắt tất cả mọi người, phải bỏ lại tài sản của mình trước khi nhập trại. Chúng ghi cho mỗi người một tờ biên lai, có ký tên đóng dấu hẳn hoi. Chúng nói dối rằng: “Sau này, khi các ngươi ra khỏi trại, sẽ được nhận lại đầy đủ”. Nhiều người đã ngỡ rằng, chỉ một thời gian nữa sẽ được trở về.

Hai mẹ con tôi bị nhập vào trại Auschwitz 2, nơi dành cho những người không có khả năng lao động, và ở đấy chúng đã xây sẵn lò thiêu. Trong trại, ngoài người Do Thái chúng tôi, bọn Phát xít còn cầm tù cả sĩ quan, binh lính Nga, những người Digan, đồng tính hay khuyết tật. Bọn Phát xít có thể giết tù nhân bất cứ lúc nào, nếu chúng muốn. Bọn lính SS rất khoái được tập bắn vào mảnh tam giác màu hồng, mà những người đồng tính đeo trên ngực. Các tù binh người Nga, thì bị đưa vào phòng áp suất lớn, hoặc phòng bị rút dần không khí để làm thí nghiệm. Cuộc sống của chúng tôi như ngàn cân treo lơ lửng trên đầu sợi tóc, từng giờ, từng phút…

Chuông đồng hồ nhà thờ điểm ba tiếng. Bà Jauch dừng lại, húng hắng ho. Hoài An đề nghị:

   - Chúng ta có thể vào quán uống chút gì đó, con mời bà.

   - Về nhà, nhà tôi gần đây - Bà phẩy tay rồi chống gối đứng dậy. Hoài An đỡ bà lên rồi gọi hai đứa trẻ đi theo.

   - Đằng nào cũng chết, sao mọi người không nổi dậy? - cô bức xúc.
  
- Nổi thế nào được mà… nổi - bà già rên rỉ - nó có súng, mình tay không. À, nhưng cũng có đấy, họ là những người lính Nga và những người còn khỏe mạnh khác. Họ kiếm được thuốc nổ, đánh sập được một lò thiêu, giết được cả lính SS. Nhưng thoát được ít lắm. Người ở lại bị chúng giết rất nhiều.

Căn hộ độc thân của bà Jauch nằm ở bên kia đường, đối diện vườn hoa tưởng niệm. Nơi đây, ngày xưa là một nhà thờ của người Do Thái, cha mẹ bà đã đến đây cầu nguyện. Nhưng đến năm 1938, nó đã bị bọn phát xít thiêu hủy. Từ cửa sổ căn phòng, Hoài An có thể nhìn thấy toàn cảnh Jerusalemer Platz. Bây giờ thì cô hiểu, tại sao bà lại chọn nơi này để sống nốt những ngày cuối cùng của đời mình.

   - Bọn trẻ đã có kem ăn rồi, ta dùng cà phê chứ? - Bà hỏi.

   - Vâng, cho con xin một ly. Nhưng để con làm.

Bà cụ quay ra mở tủ lạnh, lấy hai thỏi bánh ngọt Zitronenrolle, đường và sữa rồi đặt lên giữa bàn. Bà thắp một cây nến nhỏ, bảo là cho nó “ấm cúng”. Nhấp một ngụm cà phê nóng, bà hỏi Hoài An:

   - Nãy ta nói đến đâu rồi nhỉ?

   - Đến đoạn tù nhân đánh bộc phá.

   - À, phải rồi. Khi mẹ con tôi đến Auschwitz, cũng là lúc chúng đang sửa lại lò. Một hôm có một viên sĩ quan SS đến chỗ chúng tôi. Đi bên cạnh ông ta là một cô bé trạc tuổi tôi, mắt xanh, tóc vàng xinh mê hồn. Tôi nghĩ: Chắc là con gái ông này. Ông ta đi nhòm ngó khắp nơi, hễ thấy đứa trẻ bẩn thỉu nào trong đám chúng tôi, cũng âu yếm vuốt má, rồi bảo cô “con gái” lấy cho một thỏi Schokolade. Lâu lắm rồi chúng tôi không được ăn thứ kẹo này. Không tưởng tượng được là chúng tôi đã vui sướng đến mức nào. Có đứa mạnh bạo, sờ vào bàn tay trắng ngần của cô bé, nó còn quay lại cười. “ Hãy gọi ta là chú Mengele”. - Ông ta bảo chúng tôi như vậy trước khi quay đi. Nhưng không ai có thể ngờ được, viên sĩ quan đó chính là bác sĩ Joseph Mengele - một hiện hình của các tội ác tày trời. “Chú Mengele” mà bọn trẻ trìu mến gọi, đưa chúng tôi vào những phòng thí nghiệm của y: Những hóa chất do bọn phát xít pha chế, được tiêm thẳng vào mắt. Chúng muốn tìm ra công thức làm biến đổi màu mắt theo ý muốn; những chi chân, chi tay bị cắt;  thận bị lấy đi để phục vụ cho thí nghiệm cấy ghép. Cô Stella có hai đứa con sinh đôi, một hôm tên Mengele mang chúng đi, mấy ngày sau chúng đem trả lại, thì cô Stella chết ngất: hai đứa trẻ bị lột da lưng và bị khâu dính lại với nhau. Vết khâu nhiễm trùng. Cô phải vào làm việc trong nhà thổ, chuyên phục vụ sỹ quan và binh lính SS để cầu khẩn bọn chúng, xin một liều Morphin, rồi tự tay mình tiêm cho con để chúng ra đi…

Bà Jauch đặt bàn tay bốn ngón xuống mặt bàn, bà nhìn chằm chằm vào nó như để thấy lại hình ảnh tăm tối nhất của cuộc đời, rồi ngước nhìn Hoài An:

   - Nó đấy, tội ác của tên bác sĩ  Mengele còn đấy. Nó đã cắt đi ngón út của tôi để nối với đứa trẻ khác. Mẹ tôi đã khóc hết nước mắt.

Hoài An rưng rưng nâng hai tay bà cụ lên, nước mắt của cô làm nhòe đi hình hài hai bàn tay gầy guộc, cong queo chỉ còn chín ngón. Trong cô lúc này chỉ có sự kinh hãi và lòng căm giận. Tại sao cùng một loài người với nhau, mà lại có loại người độc ác đến như vậy? Thấy Hoài An buồn, bà nói vui:

   - Nhưng chín ngón lại làm việc bằng mười ngón, chúng thật chăm chỉ. Cô biết không, tôi đến tiệm của cô để làm đẹp chúng, cũng chỉ vì chiều lòng con bé Elisabeth. Mỗi lần đến thăm tôi, nó cứ bắt tôi phải làm móng như mẹ nó, phải xanh xanh, đỏ đỏ nó mới thích.

Hoài An mỉm cười, ra là vậy, để chiều lòng đứa chắt, bà đã chịu làm cả những việc mà ở tuổi của bà không còn ưa thích. Giục Hoài An ăn bánh, bà kể tiếp:

   - Mấy ngày sau, ngón tay cuốn băng của tôi vẫn còn đau, mạch máu đỏ  bắt đầu xuất hiện và chạy dài lên nách, nhức nhối vô cùng. Có lẽ nó bị nhiễm trùng.

Tôi nhớ không bao giờ quên, hôm ấy là một ngày cuối thu năm 1944, mẹ tôi bị ốm, bà phải nằm lại trong trại, một mình tôi lên phòng y tá. Cùng lũ trẻ ngồi dưới đất ngoài hành lang chờ đợi, đói và mệt làm tôi dựa đầu vào tường ngủ thiếp đi. Trong mơ, tôi thấy được mẹ dắt tay ra một cánh đồng. Ở đấy, chúng tôi đứng lặng ngắm nhìn rừng sồi. Đã cuối thu, nhưng cả khu rừng vẫn mướt xanh ngào ngạt. Gió lay lao xao trên ngọn cây, hương rừng thơm và hăng hắc mùi đồng nội. Tôi tung tăng trên cánh đồng, người nhẹ bẫng như bay, dưới chân tôi, cỏ và hoa lướt đi ngập tràn. Đang cơn mê đắm, bỗng nhiên tôi nghe thấy có tiếng cha gọi. Tiếng cha rõ mồn một, ngay bên mình. Mở mắt ra, tôi vẫn nghe thấy tiếng gọi, nhưng là của một giọng rất trong trẻo:

   - Này! Dậy… dậy đi!

Ngẩng đầu lên, tôi giật mình nhận ra con bé mắt xanh tóc vàng bữa nọ. Tôi nhìn nó như bị hút hồn: Mái tóc dài mượt mà, bên trên đậu một chiếc nơ màu hồng, trông như cánh bướm. Chiếc váy cũng màu hồng, in hình những bông cúc trắng. Đôi mắt xanh biếc mở to, long lanh mây trời.

   - Bạn mệt hả? Bạn có đói không? - Nó cúi xuống lay vai tôi.

Tôi lờ đờ nhìn nó, im lặng. Thật không ngờ, ở nơi khổ đau chết chóc như thế này, lại xuất hiện một con bé đẹp như thiên thần. Lúc đó, tôi gầy trơ xương, đầu lại trọc lốc, quần áo tù xọc xanh bẩn thỉu. Nghe giọng nói, tôi biết chắc chắn nó là người Đức. Tôi cảnh giác và tỏ ý khinh khỉnh. Nó nhắc lại:

   - Bạn có đói không? Vừa nói, nó vừa móc trong túi ra một thỏi Schokolade. Trời ơi! Lại Schokolade, tôi thèm khát, tôi đói cồn cào. Không cưỡng được, tôi khẽ gật đầu. Trong một tích tắc, tôi vồ lấy thỏi kẹo, cắn cả vào lần giấy bọc.

   - Mình tên là Sophie -Con bé tự giới thiệu.

   - Hannah! - Vì mải ăn tôi trả lời có vậy.

Ăn xong tôi mới hỏi nó:

   - Nhà bạn ở đâu? Sao bạn lại ra đây?

Sophie chỉ tay về phía rừng sồi, tít sau trại.

   - Nhà tớ ở sau cánh rừng này. Hôm nay, theo lệnh bác sĩ Mengele, mẹ lại đưa tớ vào đây chơi với các bạn…

   - Mẹ bạn làm gì?

   - Mẹ tớ làm việc trong khu này.

Tôi bất giác rùng mình.

   - Tên mẹ bạn là gì?

   - Mẹ tớ tên là Katrin - Nó nhắc lại: - Katrin Jauch.

Bà Katrin Jauch dáng người đẫy đà, có mái tóc vàng lúc nào cũng được buộc gọn gẽ sau ót, thì tôi đã được biết từ ngày ở khu biệt cư ở Warschau. Lúc đầu bà là một nhân viên cứu trợ xã hội, chuyên đi phát chẩn cho người Do Thái. Một thời gian sau, dịch sốt phát ban bí hiểm lan tràn trong khu này, giết chết nhiều người. Ngay cả bọn lính Đức cũng sợ, không dám đến gần. Nhưng người ta vẫn thấy bà Katrin mặc áo bờ lu, vào tiêm thuốc chống dịch cho chúng tôi. Sau này để bao vây bệnh dịch, không cho lan sang lính Đức, bọn SS đã đồng ý cho bà theo về trại Auschwitz, làm tiếp công việc của mình. Vậy là gia đình bà được ở ngay trong khu gia binh, sát cạnh rừng sồi.

Từ đấy trở đi tôi và Sophie trở nên đôi bạn thân thiết. Tôi lúc nào cũng nhớ tới Sophie. Hàng ngày đi làm, tôi luôn để mắt xem hôm nay nó có được vào trong trại không. Nhà phòng dịch nơi bà Jauch làm việc, nằm sau cùng, trong khu quân y. Khu này được tách biệt với trại tù bằng một hàng rào thép gai thưa. Sau nhà phòng dịch có một cái vườn rộng, cỏ hoang mọc dày. Sophie chọn một góc khuất sau vườn, hẹn tôi ở đó. Mỗi lần gặp nhau, lần nào nó cũng sẵn trên tay,  khi thì một chú gấu bông, khi thì giấy bút để vẽ. Tôi vẽ hai mẹ con đang đi trong rừng sồi, bên trên là trời cao trong xanh, một đàn chim tung cánh trong mây, bay về nơi tít xa. Tôi khao khát tự do, tôi mong được ra khỏi chốn này... Sophie vẽ rất đẹp. Nó vẽ cảnh đi tắm ở biển Bắc với bố mẹ, xa bờ là một con tàu nhả khói. Tất cả những lần gặp nhau, không bao giờ Sophie quên mang cho tôi đồ ăn. Lúc thì mẩu bánh ngọt, lúc thì khoanh xúc xích, hay khi thì cái kẹo. Có lần nó thò tay qua hàng rào, nắm bàn tay gầy guộc của tôi rất lâu. Tôi cũng nắm tay nó, rồi cả hai cùng khóc. Không hiểu sao, Sophie rất thích vẽ những con tàu đi trên đại dương và nhả khói. Một lần nó hỏi tôi: “Từ nhà nhìn sang trại, tớ thấy có một ống khói rất cao, lúc nào cũng nhả khói đen kịt. Họ đốt cái gì vậy?”. Tôi cũng không biết, nên trả lời đại : “Chắc là một cái nhà máy nào đấy”. Sophie rất muốn trốn sang bên trại tù, nó bảo: “Để xem bên trong có gì”.

Cũng may, chỗ tôi đứng bên ngoài hàng rào, cạnh một bãi rác chứa nguyên vật liệu làm nhà. Ở đấy có cả những cây cột gỗ và xi măng vứt lổng chổng, nên không ai nhìn thấy. Chúng tôi chơi với nhau một lúc, khi nghe trong trại có tiếng còi, là tôi phải chạy về cho nhanh. Thời gian đó, mẹ tôi vẫn ốm nằm trong trại. Nhưng mấy ngày sau, chiều tối đi làm về, tôi không  thấy mẹ đâu. Đêm nằm thấy nhiều ô giường cũng bỏ trống, nhớ mẹ tôi khóc nhiều lắm, nhưng cũng không dám khóc to. Mọi người bảo tôi rằng “ngày mai mẹ sẽ về”. Nhưng chờ mãi, thêm hai ngày nữa trôi qua, mà vẫn chưa thấy mẹ về. Tôi lo sợ vô cùng. Đến ngày thứ bảy, Sophie mới được phép vào khu quân y. Tôi đã kể hết sự tình cho nó hay, rồi ngồi ôm mặt khóc. Sophie ngồi im suy nghĩ... Một lúc sau nó reo lên:

   - Tớ có một sang kiến.

Tôi ngẩng lên chờ đợi, nó nói tiếp:

   - Tớ sẽ sang trại, chúng ta cùng đi tìm mẹ.

   - Bằng cách nào mà bạn sang được? -Tôi hỏi.

   - Cậu mang cho tớ một bộ quần áo tù!

Tôi mừng lắm, lại còn mang thêm cả một chiếc mũ xọc xanh, để Sophie che đi mái tóc vàng của nó. Cuối cùng nó đã trốn được ra ngoài với tôi. Chúng tôi ôm nhau hồi lâu không muốn dứt. Bộ váy áo của Sophie được cuộn lại để dưới một hốc cột điện. Chúng tôi chạy như bay về trại.

Hai đứa bắt đầu đi từ nhóm lao động này, đến nhóm lao động khác. Có những nơi chúng tôi đi qua hai, ba lần để tìm, hỏi ai họ cũng chỉ buồn bã lắc đầu. Quay vào tìm bên trong nhà, chúng tôi trèo lên tận tầng trên cùng của các ô giường, cũng không thấy. Ở đây toàn những người già, những người bệnh tật ốm đau. Họ nằm, ngồi vật vạ và nhìn chúng tôi với đôi mắt vô hồn. Ngay khi còn đang hoang mang chưa biết phải làm gì, thì chúng tôi nghe thấy tiếng còi ré lên, rồi tiếng bọn lính SS quát tháo: “Tất cả những người ở trong nhà phải ra hết”. Mọi người trong nhà thất thểu lê bước. Chúng tôi đi theo họ, ra đến sân đã thấy rất nhiều người bị quây ở đó. Tôi và Sophie bị đẩy lọt thỏm giữa hàng trăm người tù. Họ ốm yếu lắm, có những người phải dìu nhau mới cất được bước chân. Dẫn chúng tôi đi là những tù nhân Do Thái khác, họ đeo băng “trật tự” nơi cánh tay và luôn vung gậy quát tháo. Vòng bên ngoài là bọn lính SS đeo súng và dắt chó chiến đấu đi kèm. Tôi và Sophie rất sợ, không hiểu họ định làm gì, và dù đã rất cố gắng, chúng tôi cũng không thể thoát ra khỏi dòng người. Hai đứa tôi bắt đầu khóc, chân vẫn bước đi còn tay thì nắm chặt nhau không rời.

Bọn Phát xít dồn ép đoàn người đi vào con đường dẫn xuống hầm. Trong hầm, chúng tôi đi qua những cửa phòng khép kín và bên trên đề chữ “phòng tắm”, “phòng tắm hơi”. Cuối cùng, đoàn người dừng lại trong một căn phòng khá rộng. Ở đấy bọn chúng bắt tù nhân cởi hết quần áo. Đám người trần trụi bị dồn lên, đứng trước một cánh cửa sắt cài then kiên cố. Mấy phút sau, cánh cửa đó bắt đầu mở ra và nuốt dần từng tốp người vào bên trong. Bị ép chặt quá, chúng tôi gần như bị ngạt thở. Nhưng tôi và Sophie vẫn cố giữ chặt tay nhau. Bỗng nhiên ở phía trước, có tiếng một phụ nữ hét lên, rồi nhiều tiếng la thất thanh tiếp theo. Dòng người ép nhau lùi lại. Trước mắt tôi là một cảnh tượng kinh hoàng : một phụ nữ bị cắt mất một bên vú, máu vương khắp trên tấm thân trần truồng. Vài người xúm lại, họ vực người phụ nữ ấy dậy. Bỗng nhiên tôi nghe tiếng có một người hát. Có lẽ những người lớn, họ đã dày dạn kinh nghiệm trong cuộc sống, và nhiều người đã từng sống sót sau những cuộc thảm sát của bọn Phát xít, nên họ có một  linh cảm nào đó rằng, cái chết đã tới gần. Vì thế, ở trong đoàn tù bỗng vang lên một giọng nam trầm, giọng nam đó run rẩy cất tiếng hát bài “Nhân dân Israel sống mãi”. Một vài người hát theo. Mọi người bắt đầu hát. Tôi cũng hát. Sophie tròn mắt nhìn tôi, tay nó càng siết chặt tay tôi hơn. Bên ngoài có tiếng chó sủa, tiếng la hét của bọn lính và tiếng roi da vút đen đét. Lần này, dòng người lại bị bọn lính SS dồn từ dưới lên rất mạnh, có nhiều người bị ngã xuống không dậy được nữa. Chân chúng tôi gần như không chạm đất, bị xô bên này, dạt bên kia. Tôi và Sophie cố ghì chặt tay nhau lại, nhưng không được. Chúng tôi nhỏ bé quá, yếu đuối quá, không ai nhìn thấy chúng tôi cả. Cuối cùng dòng người đã cuốn Sophie về phía trước, nơi cánh cửa địa ngục đang chờ.


Nguyễn Công Tiến (còn tiếp)

>> Truyện nhiều kỳ của Nguyễn Công Tiến (Halle, CHLB Đức): HỒN MA (Kỳ1)

------------------

LTS: 
Mọi hành động sử dụng nội dung bài viết trên phải có sự đồng ý bằng văn bản của Báo điện tử NguoiViet.de.

Tổng số điểm của bài viết là: 30 trong 6 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 6 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Nguyen Cong Loi

    Tôi đã đọc nhiều bài của Tiến. Bài này thì ưng nhất ,ấn tượng nhất. Nếu gặp tác giả cho bắt tay một cái .

      Nguyen Cong Loi   22/09/2016 04:20
    • @Nguyen Cong Loi
      Hi vọng có một ngày nào đó, chúng ta được nắm chặt tay nhau.

        Công Tiến   29/09/2016 16:14

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây