Những lợi ích cho sức khỏe của việc hút thuốc lá (Phần 2)

Thứ bảy - 03/06/2017 06:59
Ngày thế giới không thuốc lá (World No Tobacco Day) đã qua. NguoiViet.de xin mời bạn đọc tham khảo cái nhìn khác lạ của Elliot Overton về mối liên quan giữa thuốc lá và sức khỏe.
Những lá phổi đen không phải có nguyên nhân từ khói thuốc lá (Ảnh: Smoking Science)
Những lá phổi đen không phải có nguyên nhân từ khói thuốc lá (Ảnh: Smoking Science)
Những lợi ích cho sức khỏe của việc hút thuốc lá (Phần 2)

Lời dối trá về phổi bị đen 

Một quan niệm sai lầm phổ biến nữa về hút thuốc lá là bản thân khói thuốc lá có thể biến các mô ở phổi thành màu đen. Tuy nhiên, điều này là không thể xảy ra. Các mô ở phổi chỉ có thể chuyển thành màu đen khi nó bị ung thư hoặc hoại tử, hoặc là khi có lượng đáng kể nguyên tố carbon được hít vào trong thời gian dài 

Bạn có thể tìm nguyên tố carbon ở đâu? Ở trong các mỏ than, chứ không phải trong thuốc lá. Và bạn biết không? Các bác sĩ phẫu thuật không thể phân biệt sự khác nhau giữa phổi của người hút thuốc và người không hút thuốc

Đây là một số tuyên bố của những người trực tiếp cầm dao mổ hoặc tiếp xúc với mô phổi:10
"Hút thuốc lá không làm đổi màu phổi." - Tiến sĩ Duane Carr, Giáo sư Phẫu thuật tại Khoa Y, trường Đại Học Tennessee 

"Tôi đã xem xét hàng ngàn mẫu phổi cả bằng mắt thường và dưới kính hiển vi. Tôi không thể chỉ bằng cách xem xét lá phổi mà nói được chủ nhân trước kia của nó có hút thuốc lá hay không." - Bác sĩ Victor Buhler, nhà nghiên cứu bệnh học tại Bệnh viện St. Joseph, thành phố Kansas 

"...không thể bằng mắt thường, hay kính hiển vi, hay bằng bất cứ cách nào khác mà tôi biết, để phân biệt giữa phổi của một người hút thuốc và một người không hút thuốc. Phổi bị đen là từ các hạt than, và hút thuốc lá không đưa hạt than vào phổi." - Bác sĩ Sheldon Sommers, nhà nghiên cứu bệnh học và giám đốc phòng thí nghiệm tại Bệnh viện Lenox Hill, New York
Cuối cùng, đây là trích dẫn từ cuốn Bức màn khói của Richard White:11
"Cái ý tưởng rằng hút thuốc lá có thể làm phổi chuyển màu đen có thể được dò lại đến năm 1948. Ernst Wynder, khi đó là sinh viên y năm thứ nhất tại St Louis, được chứng kiến cuộc khám nghiệm tử thi một người đàn ông chết vì ung thư phổi, và anh ta lưu ý rằng hai lá phổi bị đen. Cảnh tượng này gợi lên trí tò mò và anh ta tìm hiểu hoàn cảnh của bệnh nhân. Khi phát hiện ra rằng không có sự tiếp xúc rõ ràng nào với ô nhiễm không khí, nhưng người bệnh quá cố đã hút hai bao thuốc lá mỗi ngày trong 30 năm, anh ta liền gắn hai sự việc với nhau. Wynder sau đó dành cả sự nghiệp để "chứng minh" rằng thuốc lá gây ra ung thư, mặc dù ông ta buộc phải thừa nhận rằng các dữ liệu ông ta thu thập không chính xác (Wynder sau này xuất bản nhiều cuốn sách có chứa ảnh những lá phổi bị ung thư màu đen, khiến người ta hiểu rằng hút thuốc đã gây ra điều đó. Sau đó nữa, ông ta thừa nhận rằng ông ta đã sai."
>> Xem thêm video về hút thuốc lá (phụ đề tiếng Việt) ở đây.

Những lợi ích sức khỏe của thuốc lá 
 
© Dreamstime Phân tử nicotine

Nicotine là một trong những thành phần chính của thuốc lá và bộc lộ một loạt các tính chất chữa bệnh. Đó là lý do tại sao nó là chủ đề của một số nghiên cứu khoa học mới rất hấp dẫn. Tuy nhiên, để thực sự đánh giá được những lợi ích của nicotine, trước hết chúng ta phải xem xét các cơ chế hoạt động chính của nó. 

Nicotine là chất chủ vận ban đầu của các thụ thể acetylcholine loại nicotinic. Về cơ bản, điều này có nghĩa là nicotine tương thích với các thụ thể acetylcholine trong cơ thể và có khả năng gắn kết với chúng. Sự gắn kết này kích hoạt một loạt phản ứng hóa học, trong đó hiệu ứng chính của nó là kích thích giải phóng nhiều chất truyền dẫn thần kinh, bao gồm cả dopamine, serotonin, noradrenaline và, chủ yếu là acetylcholine. Theo Bác sĩ Gabriela Segura12, "Acetylcholine là chất truyền dẫn thần kinh điều hành việc học hành và trí nhớ. Nó cũng có tác dụng êm dịu, làm thư giãn và là một yếu tố chính kiểm soát hệ thống miễn dịch. Acetylcholine còn hoạt động như một bộ phanh hãm đối với quá trình sưng tấy trong cơ thể, mà sưng tấy có liên quan đến tất cả mọi căn bệnh từng được biết." Khi nicotine gắn kết với α7 nAChR (thụ thể acetylcholine liên quan đến hệ thống miễn dịch), nó kích hoạt một hệ thống được biết đến dưới cái tên "cholinergic anti-inflammatory pathway" (đường chống sưng tấy cholinergic), hệ thống chịu trách nhiệm làm giảm sự sưng tấy trong cơ thể. Do vậy, nicotine thật ra là một chất làm giảm sưng tấy. 

Bài viết13 "Nicotine, một phân tử chống sưng tấy" thảo luận rất nhiều về chủ đề này. Nó giải thích rằng "sự kích thích từ nicotine đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế sản sinh các cytokine gây sưng tấy, có thể làm suy giảm và làm chậm một cách đáng kể các phản ứng sưng tấy và tự miễn trong hệ thần kinh trung ương, và thêm vào đó có thể trực tiếp làm giảm sưng tấy trong hệ thần kinh. Những con chuột thí nghiệm được tiêm nicotine trước khi bị tiêm liều cao virus cúm A cũng thể hiện tỷ lệ sống sót cao hơn khi so sánh với nhóm đối chiếu." Tác giả cuối cùng tuyên bố:
"Những kết quả thí nghiệm trong ống nghiệm và trong cơ thể sống này càng khẳng định tác dụng chống sưng tấy của nicotine. Nghiên cứu của chúng tôi đưa ra bằng chứng đầu tiên rằng tác dụng chống sưng tấy của nicotine trong khói thuốc lá có thể là một yếu tố đóng góp quan trọng trong việc hạn chế mức độ nghiêm trọng trong lây nhiễm của cả hai virus cúm A pdmH1N1 và H9N2, và tác dụng chống sưng tấy đó được thực hiện qua đường tín hiệu α7 nAChR."
Xuất phát từ những tác động có lợi đã biết của acetylcholine lên bộ não và hệ thần kinh, chúng ta hãy cùng xem việc hút thuốc lá ảnh hưởng đến hoạt động não bộ ra sao. 

Một thực tế được nhiều người trong số các nhà tâm lý học nhận thức và các nhà khoa học thần kinh biết đến là nicotine làm gia tăng đáng kể hoạt động nhận thức. Chính phủ Hoa Kỳ công bố một nghiên cứu phân tích14 vào năm 2010 (tiến hành bởi Viện Nghiên cứu Quốc gia về Lạm dụng Ma túy) trong đó các tác giả phân tích tất cả các nghiên cứu từng có về tác dụng của nicotine lên não bộ. Trong tổng số 256 nghiên cứu, 48 trắc nghiệm tiêu chuẩn sử dụng máy tính có chất lượng cao nhất được lựa chọn để đánh giá kỹ hơn. Trong những trắc nghiệm này, một nửa số người tham gia được nhận nicotine và nửa còn lại được cho dùng giả dược. Kết quả cho thấy những người được nhận nicotine làm tốt hơn ở gần như mọi trắc nghiệm, cho dù họ có phải là người hút thuốc lá hay không. Kết quả này đặc biệt rõ trong lĩnh vực trí nhớ, tốc độ, độ chính xác, mức độ tập trung. Nghiên cứu cũng cho thấy những người được nhận nicotine làm tốt hơn một cách đáng kể trong những lĩnh vực khác như trí nhớ dài hạn, trí nhớ về ngữ nghĩa, các tính toán phức tạp, và kỹ năng về chân tay. 

Rõ ràng là nicotine rất có lợi cho chức năng nhận thức, nhưng khi so sánh với việc thực sự hút thuốc lá, chúng ta có thể thấy rằng tách riêng nicotine không có hiệu quả bằng. Một nghiên cứu15 tiến hành bởi Warburton và cộng sự phát hiện rằng:
"Nicotine [không qua hút thuốc] dẫn đến tiến bộ trong hoạt động thần kinh với tính chất tương tự như những tiến bộ tạo ra do hút thuốc. Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi về sự cẩn trọng và khả năng xử lý thông tin nhanh cho thấy sự tiến bộ do nicotine nhỏ hơn về lượng so với tiến bộ có được từ hút thuốc lá."
Một nghiên cứu khác16 xuất bản vào năm 2014 cho thấy sự gia tăng của các thụ cảm nicotine (tạo ra từ việc hút thuốc) có liên hệ với mức độ giao tiếp xã hội và khả năng nhận thức tốt hơn. Trên thực tế, có rất nhiều thông tin khoa học về tác động có lợi của nicotine về mặt sinh lý. Thế nhưng không một chút nào trong những thông tin này thấm ra được đến công chúng. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên đối với những ai hiểu việc truyền thông chính thống và các tập đoàn dược phẩm thường xuyên bóp méo và hạn chế những thông tin không có lợi cho luồng thông tin chính thức mà họ muốn quảng bá. 

Cuối cùng, nhà nghiên cứu David. M. Warburton từ Khoa Tâm lý học trường Đại học Reading, kết luận rằng:17
1. Nicotine cải thiện sự tập trung trong nhiều trắc nghiệm ở những người tình nguyện khỏe mạnh. 

2. Nicotine cải thiện trí nhớ ngắn hạn và dài hạn ở những người tình nguyện khỏe mạnh. 

3. Nicotine cải thiện sự tập trung ở những bệnh nhân có nhiều khả năng bị bệnh Alzheimer. 

4. Trong khi một số tác động về trí nhớ của nicotine có thể là do sự tập trung tốt hơn, phần còn lại có vẻ như là kết quả của hoạt động thần kinh hợp nhất được cải thiện.
Bây giờ hãy cùng xem xét một số tác dụng chữa bệnh và có lợi khác của cây thuốc lá... 

Kiềm chế Mono Amine Oxidase 

Monoamine oxidase (MAO) là những enzyme trong cơ thể với nhiệm vụ phân hủy các chất truyền dẫn thần kinh do cơ thể tạo ra như Noradrenaline (Norepinephrine), Serotonin và Dopamine. Những chất kiềm chế mono amine oxidase (MAOI) là những hóa chất có tác dụng kiềm chế hoạt động của các enzyme này nhằm làm tăng cường số lượng phân tử của các chất truyền dẫn thần kinh trên. Vì lý do này, nhiều dược phẩm chứa MAOI được phát triển bởi các công ty dược từ cuối những năm 1950 và bán làm thuốc chống trầm cảm. Tuy nhiên, điều thú vị là khói thuốc lá đã được chứng tỏ là chứa các MAOI một cách tự nhiên. Điều này được phản ánh trong nhiều nghiên cứu18 cho thấy những người hút thuốc có nồng độ cả hai loại MAO (A và B) thấp hơn bình thường một cách đáng kể. Điều này về cơ bản có nghĩa rằng việc hút thuốc lá có tác dụng như một loại thuốc chống trầm cảm tự nhiên, không có bất cứ tác dụng phụ kinh khủng nào thường thấy ở nhiều loại dược phẩm tổng hợp. Một thực tế thú vị khác là dược chất "Deprenyl", một chất MAOI, cũng đã được chứng tỏ trong nhiều trường hợp19,20, là có tác dụng làm tăng đáng kể tuổi thọ của nhiều loài động vật có vú trong môi trường phòng thí nghiệm. Đây là mẩu thông tin nên giữ trong đầu bởi vì chóng ta sẽ quay trở lại với nó ở dưới đây. 

Glutathione: "Chất chống ôxy hóa bậc thầy" 

Là một chất chống ôxy hóa, chức năng của glutathione là bảo vệ hầu như mọi tế bào trong cơ thể khỏi bị tổn thương bởi các gốc tự do, kim loại nặng, và peroxide / lipid-peroxide. Nó là thành phần chính của hệ thống tự vệ tự nhiên của cơ thể và sự có mặt của nó là cần thiết để hoàn thành một loạt quá trình sinh lý của tế bào, bao gồm cả sự phân chia, sinh sản của tế bào. Điều khiến glutathione đặc biệt là ở chỗ, không giống các chất chống ôxy hóa khác, nó thâm nhập vào bên trong tế bào và có khả năng duy trì các chất chống ôxy hóa khác ở trạng thái sẵn sàng để tối đa hóa hoạt động chống ôxy hóa. Nó đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong các quá trình khử độc. Đây là lý do tại sao phần lớn dự trữ glutathione của cơ thể nằm ở gan. Nó cũng có ảnh hưởng đáng kể đến chức năng miễn dịch. Sự suy kiệt glutathione cũng có liên hệ với ung thư, các bệnh của tuổi già, bệnh xơ nang, tim mạch, sưng tấy, các bệnh trao đổi chất và thoái hóa thần kinh.21 Cộng đồng y tế không chính thống thừa nhận phân tử này là "mẹ của tất cả các chất chống ôxy hóa", và nó xứng đáng như vậy. Thú vị thay, người ta thấy phổi của người hút thuốc lá chứa lượng glutathione nhiều hơn 80% so với phổi người không hút thuốc.22 

Nồng độ cao của glutathione trong phổi làm gia tăng sự bảo vệ chống lại các chất ngoại lai và vi sinh vật gây bệnh. Điều mà kết quả nghiên cứu này gợi ý là việc hút thuốc lá thực ra có thể có tác dụng bảo vệ các mô ở phổi thông qua việc làm tăng cường nồng độ glutathione. Tuy nhiên, cơ chế của sự gia tăng này không được giải thích trong nghiên cứu đó. Một thí nghiệm khác23 tìm cách đo trực tiếp tác động của khói thuốc lá lên nồng độ glutathione và dưới đây là những gì họ phát hiện ra:
"Sự phơi nhiễm khói thuốc lá ban đầu làm giảm nồng độ GSH [glutathione] 50% nhưng chỉ trong 2 giờ, nồng độ GSH tăng bật trở lại khoảng 3 lần mức cơ bản và đạt đỉnh sau 16 giờ với sự gia tăng gấp 6 lần mức cơ bản. Phơi nhiễm lặp lại cho phép nồng độ GSH được duy trì ở mức 3 lần mức cơ bản trong thời gian đến 2 tháng. 

Phơi nhiễm khói thuốc lá kích hoạt một phản ứng thích nghi về GSH mạnh mẽ và rộng khắp. [...] Các yếu tố phá vỡ phản ứng thích nghi GSH có thể góp phần vào trạng thái sinh lý bệnh của COPD."
Vậy là trước tiên, họ đưa ra giả thuyết rằng hút thuốc kích hoạt "phản ứng thích nghi về glutathione" và đây là cơ chế làm tăng mạnh hệ thống glutathione đến vậy. Điều này cũng gợi ý rằng thuốc lá có tác dụng bảo vệ đối với phổi. Thứ hai, họ tuyên bố rằng các yếu tố phá vỡ cơ chế này có thể góp phần vào Rối loạn Tắc nghẽn Phổi Mãn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disorder - COPD). Tuyên bố này mâu thuẫn với các nguồn y tế chính thống, bởi vì theo những nguồn này, hút thuốc là nguyên nhân chính của COPD. Nhưng nếu hút thuốc rõ ràng làm tăng mạnh "phản ứng thích nghi về glutathione", và COPD bị gây ra bởi "phản ứng thích nghi về glutathione" hoạt động yếu, thì làm sao chỉ riêng hút thuốc có thể là nguyên nhân chính gây ra COPD? Trên thực tế, sẽ là hợp lý hơn nếu kết luận rằng hút thuốc thực ra giúp ngăn ngừa COPD thông qua cơ chế thích nghi GSH. 

Catalase và Superoxide Dismutase 

Catalase là một enzyme chống ôxy hóa có chức năng bảo vệ các tế bào khỏi tác động có hại của hydro peroxide bằng cách xúc tác chuyển hóa nó thành ôxy và nước. Do vậy, nó là một thành phần quan trọng của hệ thống miễn dịch và giải độc của cơ thể. Superoxide dismutase (SOD) cũng là một enzyme chống ôxy hóa quan trọng có tác dụng trung hòa superoxide, một sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa ôxy. Cùng nhau, đây là hai chất chống ôxy hóa đáng chú ý nhất của cơ thể, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ các tế bào chống lại tác động có hại của sự ôxy hóa / peroxid hóa và có mối tương quan chặt chẽ với tuổi thọ. Cũng giống như glutathione, catalase và SOD có vẻ như được điều khiển bởi một loại "phản ứng thích nghi" chống ôxy hóa nào đó. Một nghiên cứu gần đây24 phát hiện rằng "Nồng độ enzyme superoxide dismutase trong máu và nước bọt ở những người hút thuốc lá cao hơn nồng độ của những người không hút thuốc một cách đáng kể". Hơn nữa, người ta cũng phát hiện - trong một thí nghiệm khác25 - rằng những con chuột phơi nhiễm khói thuốc lá có lượng Catalase và Superoxide Dismutase cao gấp đôi so với những con chuột không tiếp xúc với khói thuốc lá. 

Sự gia tăng về glutathione, catalase và superoxide dismutase có thể giải thích một phần lý do tại sao hút thuốc lá giúp tránh ung thư phổi ở những người hít phải bụi phóng xạ, khói thải từ xe cộ và amiăng. Sự gia tăng trong hoạt động chống ôxy hóa này có thể là yếu tố quan trọng giúp bảo vệ các mô phổi và giải phóng khỏi cơ thể bất cứ chất độc hại nào hít vào qua đường hô hấp. 

Tác dụng kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ (hormesis) 

Một lời chỉ trích thường thấy ở những người chống hút thuốc lá là khói thuốc lá có chứa Carbon Monoxide (CO), thứ được cho là độc, vậy nên hút thuốc là không tốt. Tuy nhiên, quan điểm này dựa trên giả định sai lầm rằng bất cứ liều lượng carbon monoxide nào cũng có hại. Điều không ai nghi ngờ là một liều cao của carbon monoxide có thể gây chết người. Nhưng điều mà những người chống hút thuốc này có lẽ không nhận ra là Carbon Monoxide thực ra có tác dụng kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ. Cơ chế kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ (hormesis) được đặc trưng bởi việc đưa một chất độc ở liều nhỏ vào cơ thể để kích thích cơ thể phản ứng theo cách có lợi. Ngược lại, ở liều cao, cũng chất độc đó sẽ gây tác động có hại. Hormesis là một trong những cách hiệu quả nhất của cơ thể để tạo ra các thay đổi thích nghi ở cấp độ tế bào nhằm chống lại những tác động có hại từ bên ngoài bằng cách tăng cường các hệ thống giải độc. Nó cũng là một cách hiệu quả chống lại bệnh tật. Những tác nhân kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ khác bao gồm curcumin (chất trong củ nghệ) và hợp chất polyphenol trong trà xanh. Thậm chí ngay cả tập thể dục cũng hoạt động theo cơ chế đó! 

May mắn thay cho những người hút thuốc, ngày càng có nhiều bằng chứng chứng tỏ tác dụng kích thích sự thích nghi ở liều nhỏ của carbon monoxide và các lợi ích có thể của nó. Những nhà nghiên cứu tại khoa Nghiên cứu về Tiêu hóa và Gan cấp Phân tử (Molecular Gastroenterology and Hepatology) của trường Đại học Kyoto, Nhật Bản, nói:26
Bằng chứng tích lũy gần đây gợi ý rằng carbon monoxide (CO) có thể hoạt động như một phân tử khí phòng thủ nội sinh để làm giảm sự sưng tấy và tổn thương mô ở nhiều loại chấn thương nội tạng khác nhau, bao gồm cả sưng tấy đường ruột.

...Những tác dụng chữa bệnh hiệu quả của CO đã được chứng tỏ trong mô hình thí nghiệm trong nhiều điều kiện, bao gồm cả chấn thương phổi, tim, gan và thận, cũng như sưng tấy, bao gồm cả viêm khớp. Nó hỗ trợ cho lý thuyết mới rằng CO ở nồng độ thấp hoạt động như một phân tử truyền tin có tác dụng bảo vệ tế bào và chống sưng tấy đáng kể.
Bây giờ xem xét đến thực tế rằng cơ thể con người liên tục trải qua quá trình sản xuất và tái chế CO, và ngộ độc CO chỉ có thể xảy ra khi cơ thể bị quá tải bởi một lượng cực lớn. Khói thuốc lá chứa lượng CO nhỏ đến mức không thể hút đủ nhiều để gây ra ngộ độc. Hiểu biết được điều này, có thể yên tâm mà cho rằng chừng nào một người không ghé mặt vào ống xả xe hơi, khả năng anh ta bị ngộ độc carbon monoxide do hút thuốc lá là rất nhỏ. Ngược lại, lượng carbon monoxide hít vào từ khói thuốc lá có thể có tác dụng kích thích có lợi. 

Thuốc lá có tác dụng bảo vệ? 

Theo giáo lý y tế thông thường, thuốc lá là kẻ thù tồi tệ nhất của loài người. Tuy nhiên, như bằng chứng cho thấy, khói thuốc lá có một loạt các dược tính có lợi cho sức khỏe và tuổi thọ con người. Thêm vào đó, đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ tác dụng bảo vệ của thuốc lá chống lại nhiều tác nhân gây bệnh và các loại bệnh mãn tính. 

Trước tiên, một nghiên cứu27 về sức khỏe hệ thống hô hấp của công nhân sản xuất nhôm cho thấy "những người hút thuốc lá trong nhóm có tỷ lệ triệu chứng bệnh đường hô hấp thấp hơn những người chưa từng hút thuốc hoặc đã cai thuốc." Xét những gì chúng ta đã liệt kê ở trên, kết quả này không đáng ngạc nhiên. Hơn nữa, hút thuốc còn có vẻ có tác dụng bảo vệ chống lại nhiều vấn đề sức khỏe có vẻ không liên quan khác. 

Ví dụ, nó đã được ghi nhận nhiều lần rằng hút thuốc lá làm giảm nguy cơ bị viêm khớp rất nhiều28. Số liệu chứng tỏ những người hút thuốc được bảo vệ ở bốn vị trí thường thấy ở bệnh nhân bị viêm khớp (đầu gối, đốt sống, tay và chân)29. Hút thuốc cũng có mối tương quan tỷ lệ nghịch với bệnh viêm khớp ở các khớp lớn và đã được chứng tỏ làm giảm nguy cơ viêm khớp ở những người béo phì.30 Các chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng đây có thể là vì nicotine có tác động có lợi cho quá trình bảo trì, phát triển và sửa chữa xương. Hơn nữa, theo Bác sĩ L. Gullahorn, "trong số hơn 400 chất tìm thấy trong khói thuốc lá, nicotine là một trong những thành phần có hoạt động sinh lý tích cực nhất. Một nghiên cứu trong ống nghiệm được công bố gần đây chứng tỏ rằng nicotine là một tác nhân kích thích mạnh đối với hoạt động tổng hợp tế bào xương."31 

Thứ hai, nhiều người trong giới khoa học biết rằng những bệnh về thần kinh như bệnh Alzheimer và Parkinson có tỷ lệ thấp hơn nhiều ở những người hút thuốc; thấp hơn nhiều đến nỗi các biện pháp chữa trị dùng nicotine (và các sản phẩm phụ của nó) hiện đang được phát triển tích cực bởi các công ty dược phẩm để cho những liệu pháp trị liệu thần kinh mới. 

Thacker và các cộng sự32 phân tích dữ liệu từ lịch sử hút thuốc lá của 79.977 phụ nữ và 63.348 nam giới và phát hiện rằng, khi so sánh với người không hút thuốc, những người từng hút thuốc trong quá khứ có nguy cơ bị bệnh Parkinson thấp hơn 22%, trong khi những người đang hút thuốc có tỷ lệ thấp hơn đáng kinh ngạc là 73%.Gorel và các cộng sự33 cũng tường thuật mối tương quan tỷ lệ nghịch giữa những người hút thuốc và bệnh Parkinson. Nhưng điều thú vị về nghiên cứu này là mối tương quan tỷ lệ nghịch này tăng mạnh ở những người hút thuốc lá nhiều. Những kết quả này gợi ý rằng người nào càng hút thuốc lá nhiều thì càng ít có khả năng bị mắc căn bệnh này. Các tác giả kết luận:
"Quan hệ tỷ lệ nghịch giữa liều lượng hút thuốc và phản ứng của bệnh Parkinson ít có khả năng là do sự thiên vị hay nhiễu số liệu, như đã được thảo luận. Nó cung cấp bằng chứng gián tiếp rằng hút thuốc có tác dụng bảo vệ về mặt sinh học."
Lại một nghiên cứu nữa34 cũng kết luận: "Chúng tôi báo cáo ở đây rằng nicotine có tác dụng bảo vệ thần kinh đối với các nơ-ron dopamine." 

Những kết quả tương tự cũng được phát hiện trong các nghiên cứu về bệnh Alzheimer. Một mối tương quan tỷ lệ nghịch mạnh mẽ giữa những người hút thuốc lá và các cá nhân bị bệnh Alzheimer đã được chứng tỏ,35 và theo tác giả:
"Nguy cơ bị bệnh Alzheimer giảm đi theo số điếu thuốc lá hút hàng ngày trước khi triệu chứng bệnh bắt đầu."
Với những kết quả này, có vẻ như hút thuốc lá là một biện pháp phòng tránh có hiệu quả. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn hiệu ứng bảo vệ và chữa bệnh này xảy ra như thế nào, mặc dù hầu hết tin tưởng rằng nó có liên quan đến nicotine. Nicotine cũng đã được dùng để chữa trị có hiệu quả những cá nhân bị Rối loạn Tăng động Giảm Chú ý (ADHD) và Hội chứng Tourette. Thêm vào đó, cotinine là chất hiện đang được nghiên cứu cho các tác dụng chữa bệnh có thể của nó. Đó là một chất chuyển hóa từ nicotine và đã được chứng tỏ có tác dụng cải thiện sự học tập và trí nhớ, và cũng có khả năng bảo vệ các tế bào não khỏi nguy cơ của cả hai căn bệnh trên. 

Một thực tế được ghi nhận nhiều lần khác là tỷ lệ hút thuốc trong số những người bị tâm thần phân liệt thường cao hơn nhiều so với cộng đồng dân số nói chúng, với một số nghiên cứu36 cho thấy xấp xỉ 90% trong số họ là người hút thuốc. Mặc dù vậy, điều đáng chú ý là những người bị tâm thần phân liệt ít bị ung thư phổi và các loại ung thư khác hơn bình thường từ 30-60%. Vậy những con số này gợi ý điều gì về lý thuyết hút thuốc là nguyên nhân chính của ung thư? Tôi sẽ để cho bạn quyết định. 

Người ta từng đặt giả thuyết rằng tỷ lệ hút thuốc cao ở những người bị tâm thần phân liệt có thể là do tác dụng kích thích nhận thức của nicotine. Điều này có thể giúp họ lọc bỏ các thông tin không liên quan từ bên ngoài. Một nghiên cứu38 tại Đại học Yale University phát hiện rằng:
"...khi những đối tượng nghiên cứu bị tâm thần phân liệt ngừng hút thuốc, khả năng tập trung và trí nhớ ngắn hạn của họ bị suy giảm, nhưng khi họ bắt đầu hút thuốc trở lại, chức năng nhận thức của họ được cải thiện."
Bằng chứng từ Thụy Điển cũng cho thấy39 càng hút nhiều thuốc lá khi còn trẻ thì khả năng bị bệnh tâm thần phân liệt về sau càng giảm. Họ kết luận rằng hút thuốc có tác dụng như một biện pháp phòng tránh bảo vệ thần kinh chống lại bệnh tâm thần phân liệt. 

Y học phương Tây nổi tiếng là bơm bệnh nhân với đầy các loại thuốc nguy hại và không hiệu quả để mang lại lợi nhuận cho các tập đoàn dược phẩm. Hệ thống này không chỉ thiếu sự hỗ trợ đầy đủ cho những người có vấn đề về tâm thần; điều thậm chí còn kinh khủng hơn là nhiều tổ chức điều trị đã tước đoạt của các bệnh nhân nội trú quyền được hút thuốc, bất chấp thực tế rằng nó là một trong những biện pháp tự điều trị hiệu quả nhất. 

Bên cạnh những bệnh về thần kinh, người ta phát hiện hút thuốc lá luôn làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Viêm loét Đại tràng. Theo Lashner và các cộng sự40"những người không hút thuốc có khả năng phát triển bệnh Viêm loét Đại tràng cao gấp ba lần so với người hút thuốc." Một nghiên cứu đánh giá41 gợi ý rằng những người đang hút thuốc có nguy cơ giảm đi khoảng 42%; tuy nhiên, những người từng hút thuốc nhưng đã bỏ có nguy cơ gia tăng so với người chưa bao giờ hút thuốc. Bằng chứng này một lần nữa cho thấy hút thuốc lá có vẻ có tác dụng bảo vệ, và rằng những người bỏ hút thuốc thực ra tự đặt họ vào nguy cơ cao hơn. Thêm vào đó, những người hút thuốc và bị viêm loét đại tràng cũng được phát hiện thường có triệu chứng nhẹ hơn so với những người không hút thuốc.41 

Điều thú vị là hút thuốc lá có vẻ không mang lại lợi ích cho nhiều người bị chẩn đoán mắc bệnh Crohn, một loại bệnh viêm loét đường ruột khác. Theo thống kê, cả nam giới và phụ nữ đều có nguy cơ phát triển bệnh Crohn cao hơn nhiều nếu họ hút thuốc, và một nghiên cứu42 thậm chí còn gợi ý nguy cơ gia tăng gấp ba lần ở phụ nữ hút thuốc. Điều có vẻ như bất thường này không hợp lý chút nào khi chúng ta chỉ nhìn vào nó một cách biệt lập. Tuy nhiên, có những bằng chứng ngày càng nhiều trỏ đến khả năng căn bệnh này có nguồn gốc di truyền. Tương tự, có bằng chứng gợi ý rằng yếu tố di truyền có thể đóng vai trò nhất định trong việc hút thuốc / tiêu thụ nicotine. Nhiều người có thể bị thúc đẩy hút thuốc, hoặc không hút, do gen của họ theo nghĩa đen. Các hình mẫu gen tương tự nhau đã được tìm thấy giữa những người hút thuốc khi so sánh với những người không hút thuốc. Một số gen cũng được thấy43 hoạt động mạnh hơn ở những người hút thuốc, trong khi một số khác hoạt động yếu hơn, khi so sánh với những người không hút thuốc. Các nhà nghiên cứu44 đưa ra giả thuyết rằng các gen chịu trách nhiệm cho việc sản xuất các chất truyền dẫn thần kinh, chuyển hóa chất kiểm soát các thụ cảm tế bào và chuyển hóa nicotine có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định một người có khả năng hút thuốc nhiều hay ít. 

Điều đáng chú ý nhất đối với tôi ở đây là những bằng chứng này trỏ đến việc có sự khác biệt về sinh học giữa những người hút thuốc và những người không hút thuốc. Có lẽ điều này giúp giải thích tại sao một số người đến với hút thuốc lá một cách tự nhiên từ khi họ còn ở tuổi thiếu niên, trong khi những người khác sống cả đời mà không thèm hút thuốc một chút nào. Nó cũng có thể giải thích tại sao một số người hút thuốc có thể sống rất thọ và không bị ung thư phổi, trong khi một người khác hút thuốc vài năm nhưng không được hưởng lợi gì từ đặc tính bảo vệ của nó. Xem xét đến tính di truyền, nghịch lý về bệnh Crohn / Viêm loét Đại tràng không còn có vẻ kỳ lạ đến vậy nữa. Có lẽ bộ gen hợp với việc hút thuốc của ai đó cũng hoạt động như một yếu tố có tác dụng bảo vệ chống lại những yếu tố gây bệnh khác? Khoa học vẫn chưa trả lời được những câu hỏi này. 

Dịch từ bản tiếng Anh: A comprehensive review of the many health benefits of smoking tobacco 
-------------------------

Tài liệu tham khảo
 
  1. Davis F. The Black Lung Lie, 2012 [cited 2016 Mar 10]
  2. White R. Smoke Screens: Black LungSmokescreens.org [cited 2016 Mar 10]
  3. Segura G. 'Nicotine - The Zombie Antidote', Sott.net [cited 2016 Mar 10]
  4. Han Y, Lau Y. 'Nicotine, an anti-inflammation molecule' Inflammation and Cell Signaling, 2014
  5. Heishman S, Kleykamp B, Singleton E. 'Meta-analysis of the acute effects of nicotine and smoking on human performance', Psychopharmacology 2010; 210: 453-469
  6. Wesnes K, Warburton D. 'Smoking, Nicotine and Human Performance', 1st ed. Pergamon Press Ltd; 1983 [cited 2016 Mar 10]. Available here
  7. Esterlis I, Ranganathan M, Bois F, Pittman B, Picciotto M, Shearer L et al. 'In Vivo Evidence for β2 Nicotinic Acetylcholine Receptor Subunit Upregulation in Smokers as Compared With Nonsmokers With Schizophrenia', Biological Psychiatry 2014; 76: 495-502
  8. Warburton D. 'Nicotine As A Cognitive Enhancer', 1st ed. Department of Psychology, University of Reading: Pergamon Press ltd; 1991 [cited 2016 Mar 10]. Available here
  9. Fowler J, Volkow N, Wang G, Pappas N, Logan J, Shea C et al. 'Brain monoamine oxidase A inhibition in cigarette smokers', Proceedings of the National Academy of Sciences, 1996 [cited 2016 Mar 10]; 93: 14065-14069. Available here
  10. Milgram N, Racine R, Nellis P, Mendonca A, Ivy G. 'Maintenance on L-deprenyl prolongs life in aged male rats', PubMed, NCBI1990 [cited 2016 Mar 10]; Available here
  11. Yen T, Knoll J. 'Extension of lifespan in mice treated with Dinh lang (Policias fruticosum L.) and (-)deprenyl', PubMed, NCBI1992 [cited 2016 Mar 10]; Available here
  12. Ballatori N, Krance S, Notenboom S, Shi S, Tieu K, Hammond C. 'Glutathione dysregulation and the etiology and progression of human diseases', Biological Chemistry 2009; 390
  13. Cantin A, North S, Hubbard R, Crystal R. 'Normal alveolar epithelial lining fluid contains high levels of glutathione', Journal of Applied Physiology, 1987 [cited 2016 Mar 10]; 63: 152-157. Available here
  14. Gould N, Min E, Gauthier S, Martin R, Day B. 'Lung glutathione adaptive responses to cigarette smoke exposure', Respiratory Research 2011; 12: 133
  15. Jenifer H, Bhola S, Kalburgi V, Warad S, Kokatnur V. 'The influence of cigarette smoking on blood and salivary super oxide dismutase enzyme levels among smokers and nonsmokers—A cross sectional study', Journal of Traditional and Complementary Medicine 2015; 5: 100-105
  16. Mccusker K, Hoidal J. 'Selective Increase of Antioxidant Enzyme Activity in the Alveolar Macrophages from Cigarette Smokers and Smoke-exposed Hamsters', Am Rev Respir Dis 1990; 141: 678-682
  17. Naito Y, Uchiyama K, Takagi T. 'Therapeutic Potential of Carbon Monoxide (CO) for Inflammatory Bowel Disease', Digestion 2015; 91
  18. Radon K, Nowak D, Szadkowski D. 'Lack of combined effects of exposure and smoking on respiratory health in aluminium potroom workers', Occupational and Environmental Medicine 1999; 56: 468-472.
  19. Felson D, Anderson J, Naimark A, Hannan M, Kannel W, Meenan R. 'Does smoking protect against osteoarthritis?' Arthritis Care Res 1989; 32: 166-172
  20. Wilder F, Hall B, Barrett J. 'Smoking and osteoarthritis: Is there an association? The Clearwater Osteoarthritis Study', Osteoarthritis and Cartilage 2003; 11: 29-35
  21. Sandmark H, Hogstedt C, Lewold S, Vingard E. 'Osteoarthrosis of the knee in men and women in association with overweight, smoking, and hormone therapy', Annals of the Rheumatic Diseases 1999; 58: 151-155
  22. Gullahorn L, Lippiello L, Karpman R. 'Smoking and osteoarthritis: differential effect of nicotine on human chondrocyte glycosaminoglycan and collagen synthesis', Osteoarthritis and Cartilage 2005; 13: 942-943
  23. Thacker E, O'Reilly E, Weisskopf M, Chen H, Schwarzschild M, McCullough M et al. 'Temporal relationship between cigarette smoking and risk of Parkinson disease', Neurology 2007; 68: 764-768
  24. Gorell J, Rybicki B, Johnson C, Peterson E. 'Smoking and Parkinson's disease: A dose-response relationship', Neurology 1999; 52: 115-115
  25. Toulorge D, Guerreiro S, Hild A, Maskos U, Hirsch E, Michel P. 'Neuroprotection of midbrain dopamine neurons by nicotine is gated by cytoplasmic Ca2+', The FASEB Journal 2011; 25: 2563-2573
  26. van Duijn C, Hofman A. 'Relation between nicotine intake and Alzheimer's disease', BMJ 1991; 302: 1491-1494
  27. 'Schizophrenia and smoking: an epidemiological survey in a state hospital', American Journal of Psychiatry 1995; 152: 453-455
  28. Hodgson R, Wildgust H, Bushe C. 'Review: Cancer and schizophrenia: is there a paradox?' Journal of Psychopharmacology 2010; 24: 51-60
  29. 'Nicotine Helps Schizophrenics with Attention and Memory', Yale News, 2005 [cited 2016 Mar 10]; Available here
  30. Zammit S, Allebeck P, Dalman C, Lundberg I, Lewis G. 'Investigating the Association between Cigarette Smoking and Risk of Developing Schizophrenia in a Cohort Study', Clin Sci 2003; 104: 41P.2-41P
  31. Lashner B. 'Inflammatory bowel disease: family patterns and risk factors', PubMed, NCBI1992 [cited 2016 Mar 10];Available here
  32. Bastida B, Beltrán G. 'Ulcerative colitis in smokers, non-smokers and ex-smokers', World Journal of Gastroenterology, 2011 [cited 2016 Mar 10]; 17: 2740. Available here
  33. Thomas G. 'Role of smoking in inflammatory bowel disease: implications for therapy', Postgraduate Medical Journal 2000; 76: 273-279
  34. Chu J. 'The Genetics of Nicotine Addiction', MIT Technology Review 2007 [cited 2016 Mar 10]; Available here
  35. Davies G, Soundy T. 'The genetics of smoking and nicotine addiction', S D Med [Internet] 2009; Available here

Elliot Overton (còn tiếp)

Tác giả hiện cư trú tại Vương quốc Anh và là một trong những người dẫn chương trình thường xuyên trên chương trình Radio về sức khỏe The Health and Wellness của SOTT. Anh nghiên cứu Trị liệu Dinh dưỡng, tập trung vào Chẩn đoán Chức năng. Trong thời gian rảnh rỗi, Elliot thích nghiên cứu sâu vào các đề tài về dinh dưỡng, khoa học thần kinh và tâm lý học. Và nếu vẫn còn thời gian sót lại thì đi ra ngoài trời!

Nguồn tin: vi.sott.net

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây